Trang chủ

Văn hóa - Xã hội - ANQP

Đình Gia Viên tổ chức ngày giỗ Đức Thánh Đông Hải Đại Vương
Ngày đăng 26/01/2015 | 12:00 | Lượt xem: 100

Sáng ngày 25/01/2015 (tức ngày 06/12 âm lịch), tại di tích lịch sử văn hóa đình Gia Viên, ban quản lý đã tổ chức ngày giỗ Đức Thánh Đông Hải Đại Vương .  

Đảng ủy - UBND - Ban quản lý đình làm lễ dâng hương

Tiểu sử tóm tắt

Người làng Bổng Độ, huyện Trường Tân. Gia đình họ Đoàn đã 07 đời sống ở Bổng Độ huyện Trường Tân. Gia đình họ Đoàn chịu khó làm ăn nên giầu sang và đức độ, được dân làng ai ai cũng nể phục. Đến đời thứ 07 tức là đời ông Đoàn Trung đã 40 tuổi mà chỉ có một con gái. Bà vợ cả họ Hoàng liền bàn với chồng và lấy vợ hai cho chồng là bà Nguyễn Thị Thái. Bà Nguyễn Thị Thái là người nhàn nhã, cử chỉ khoan dung đứng đắn, theo nghề kim chỉ, tài đức vẹn tròn. Khi về nhà chồng gửi chọn phận sự của người vợ. Đối với cha mẹ chồng thì hiếu lễ, đối với hàng trên thì kính nể, đối với chồng thì thuận hòa, giữ mình rất ngay thẳng. Dân làng họ hàng đều có lòng ưu nể, ai cũng gọi là người vợ hiền.

            Vợ chồng lấy nhau đã 06 năm vẫn chưa có con.

                Đã nhiều lần mời thầy về làm chay, đến nơi thần linh cúng bái trăm phương, phải đến núi Tản Viên cầu tự mới linh ứng.

            Đến ngày 07 tháng giêng, bà Nguyễn Thị Thái sinh được một con trai. Đang khi sinh nở trong nhà tưng bừng rực lên ánh đỏ, ngoài sân sực nức mùi thơm. Người con trai tiếng khóc như chuông, tay dài quá đầu gối, phong tư sáng sửa, mặt mũi đoan trang, sau lưng có một nốt vằn lên hình chữ Thượng. Cha mẹ bèn lấy chữ Thượng đặt tên.

            Tám tuổi đọc thông hiểu nghĩa sách, mười hai tuổi mồ côi cả cha lẫn mẹ. Lúc ấy ông Đoàn Thượng còn thơ trẻ nhưng mọi việc đều rõ ràng theo điều nghĩa lớn.                                    

Hiếu thảo, nhân từ, có tác phong quân tử. Năm 16 tuổi biết nghề võ, nghiệp văn, có tài ba, khôn khéo, sức khỏe hơn người, sáng suốt hơn chúng bạn, thực là tài, kẻ cả trên đời hiếm có. Hẳn sau này là cột trụ nước nhà vậy.

            Từ đó lòng dân quy phục ngày một đông. Lúc ấy có ông bạn thân của cha khi quê ở xã Gia Viên - huyện An Dương, họ Phạm, thuộc nhà dòng dõi xưa nay, sinh được một con gái hiền lành, có đức có tài, có sắc đẹp vẹn toàn.

            Ông cụ họ Phạm thấy ông là bậc anh tài, lại có khí phách, độ lượng hơn người mới đem cô con gái yêu đính ước, kén ông đến làm rể. Ông vui vẻ vâng lời.

            Một ngày, ông thấy đất Gia Viên non sông đẹp mắt, phong tục vừa lòng mới dựng một nếp nhà giang nhỏ ở đầu làng trên một khoảng đất cao và ở rể tại đây. Ba năm sinh được một trai, bốn năm sinh được một gái. Cả trai gái đều thông sáng khác thường. Con cả học văn nên đặt tên là Văn, con gái đặt tên là Châu, cả hai đề khôi ngô đẹp đẽ.

            Khoảng năm Tự Bình Long ứng (1205) năm Ất Sửu, một năm có 02 niên hiệu Tự Bình và Long ứng, ở huyện vùng Quốc Oai có giặc Mưỡi ở núi Tản Viên nổi lên cướp phá làng Thanh Oai. Chúng rất đông và mạnh không thể trừ được. Bọn Quách Bồng làm phản đem quân ồ ạt tràn vào, vượt qua cửa thành kéo xuống Đông Bộ Đầu (phía đông Nhị Hà), kéo đến Vạn Điền Cung lập hoàng tử Thần lên làm vua.

        Vua Cao Tôn khẩn cấp chạy đến sông Quy Hóa. Lúc ấy Đoàn Thượng đang triệu tập quân lính ở nông thôn, cùng với anh em họ Trần tiến lên dẹp loạn, rước vua Cao Tôn về kinh thành chỉnh đốn lại chính sự, đánh tan giặc Quách Bồng.

            Dẹp loạn xong, việc thưởng phạt phân minh, đoàn Thượng có tài có sức khỏe, vật trâu quật hổ nhanh như gió đuổi mưa. Vua Cao Tôn thấy người có tài giao cho ông đến điều khiển mặt bể đông.

            Nhân đó ông tâu rằng, xã Gia Viên là quê ngoại, dân trong làng được coi là thần tử. Coi làng Gia Viên cũng như làng Bổng Độ. Từ đấy dân làng Gia Viên ruộng không phải đóng thuế, người không phải xung quân, người cày có thừa thóc gạo, kẻ học hành được thanh nhàn. Có thể gọi là một ấp giàu có và thịnh vượng.

            Năm Giáp Thân 1224, vua Huệ Tôn mất, không có con trai mới truyền ngôi cho con gái là Chiêu Hoàng. Chiêu Hoàng lại trao vua cho Trần Cảnh. Ông biết tin mấy lần dấy quân đánh nhà Trần hòng lấy lại nhưng thế không khôi phục được, ông lại trở về thành an nhân cố thủ. Vua Trần Thái Tôn cho Thủ Độ đuổi bắt cũng không được lại phải đi cầu cứu quân Nguyên.

            Giặc theo đường biển tiến vào, ông cho lập đồn ở các cửa biển để cảnh giới, lấy làng Gia Viên là chỗ gần sông, thế đất vững bền hiểm trở, cho lập một đồn lớn trên sông gần chỗ nhà cũ làm nghi binh.

            Thành này là do con cả ông là Văn làm tướng đóng giữ. Ông thường đích thân qua đồn Gia Viên hạ lệnh cho các tướng sỹ nghiêm cấm không cho ai được tiết lộ.

            Năm Bính Tuất 1226 tháng tư, quân Nguyên theo cửa bể Nam Triệu tiến vào đánh úp. Quân ông giả thua. Quân giặc thấy thế thắng đuổi theo. Ông ở trong đồn nổi hiệu trống, bốn mặt quân phục đổ ra vây chặt đánh mạnh. Quân địch chết đuối quá nửa, máu loang đỏ dòng sông.

                Từ đấy ông hạ lệnh cấm ngặt dù cho khách buôn bán cũng không được qua lại cửa sông Gia Viên. Nếu kẻ nào đi trộm qua đó lập tức chém đầu. Từ đó đồn Gia Viên gọi là đồn Cấm.

            Hơn 10 năm qua giặc không dám qua lại nhòm ngó. Một cõi Hồng châu đều thuộc về ông. Đồn Gia Viên người lạ không được đi qua.

Tình hình lúc này thiên hạ chia 3. Nguyễn Nôm chiếm giữ vùng Kinh Bắc, ông chiếm giữ vùng Hồng Châu.

            Một hôm Thủ Độ nói với vua Trần Thái Tôn rằng: "Hiện nay Đoàn Thượng và Nguyễn Nôm cậy mạnh giữ mất 2 vùng đông và bắc, nhà 2 con hổ tranh nhau chưa dễ đẹp yên được. Chi bằng đưa thư cầu hòa với Nôm, lại phong cho tước vương, sai Nôm đánh Thượng, Hai thế lực tranh nhau ắt sẽ phải đổ một.

            Nguyễn Nôm lừa ông về họp mặt và ông trung quân thật thà đã bị lừa không phòng bị, bị quân Nguyễn Nôm mai phục sẵn. Hai bên giao tranh năm, sáu hiệp. Vì không phòng bị nên không chống đỡ nổi, ông đã rút gươm tự sát. Tín nghĩa thay sống làm tướng, chết làm thần. Ông chết rồi xác vẫn còn trên lưng ngựa. Quân lính Nôm tranh nhau lấy thủ cấp để nâng chủ lập công. Đầu của ông bỗng bắn xuống đáy giếng Kim Quy, mình vẫn ở trên lưng ngựa. Ngựa chạy đến quận Bảo Tượng thông Đạo Điền thì chợt có gió mưa mù mịt, sấm sét ầm ầm. Dân làng sở tại cứ chỗ đó xây lăng và lập miếu thờ. Trên con đường ngựa mang thi thể của người chạy đến chỗ nào có vết máu là chỗ ấy có đền thờ. Tổng cộng có 72 đền (như Bồng Độ, An Đình, Đào Ngang…). Đền thờ chính ở làng An Nhân huyện Đường Hào.

            Làng Gia Viên sau khi Đoàn Thượng mất, các cụ phụ lão nằm mơ thấy ngài về. Dân làng lập đền thờ hiệu là: ĐÔNG HẢI ĐẠI VƯƠNG.

            Thái tổ Cao Hoàng đế (Lê Lợi) khi đi đánh quân Minh qua đất Gia Viên, đêm nằm mơ thấy Đông Hải Đại Vương về xin âm phù vận nước. Vua Lê Lợi phong sắc: "Đông Hải Linh Ứng Đại Vương", sau lại phong là " Phù hộ an dân".

            Năm 1471 ngài cũng có công giúp nước được phong thêm 2 chữ "Gương Nghi".

            Năm 1473 cầu mưa được mưa lại phong sắc là "Anh Uy Hiển Ứng".